Sau 3 năm liên tiếp xuất siêu (2016-2018) và xuất siêu ở tháng đầu tiên của năm 2019, trong tháng 2/2019 cũng như tính chung 2 tháng đầu năm, Việt Nam quay trở lại nhập siêu. Ông đánh giá như thế nào về điều này? Thực tế, nếu nhìn tổng quan toàn bộ nền kinh tế và mối quan hệ với các nền kinh tế trên toàn cầu thì hiện nay, Việt Nam vẫn nằm trong tình trạng nhập siêu là chủ yếu. Trong suốt thời gian dài qua, Việt Nam đã nhập siêu, thậm chí có những thời kỳ nhập siêu năm sau cao hơn năm trước. Vì vậy, Chính phủ mới đặt ra mục tiêu đến năm 2020 cân bằng cán cân thương mại. Tuy nhiên, chưa đến năm 2020, ngay trong năm 2017, năm 2018, Việt Nam không những cân bằng mà còn chuyển sang xuất siêu lớn. Nhiều người đánh giá đây là hiện tượng tuyệt vời, thành tích to lớn của nền kinh tế. Song thực ra, xuất siêu đó không bền vững, chưa trở thành sự ổn định của nền kinh tế. Việt Nam vẫn nằm trong tình trạng DN FDI xuất siêu, sản phẩm nông nghiệp xuất siêu, còn DN 100% vốn trong nước nhập siêu. Sở dĩ Việt Nam xuất siêu là vì các DN FDI xuất siêu tương đối lớn. Bên cạnh đó, các sản phẩm nông nghiệp vẫn bán được hàng. Trong khi đó, Việt Nam đang cải tổ hệ thống DN 100% vốn trong nước, đặc biệt là DN nhà nước nên lượng nhập về ít hơn. Ở đây, hiện tượng xuất siêu chỉ đơn thuần mang lại lợi ích duy nhất là nguồn cung ngoại tệ và sự điều khiển quan hệ tỷ giá nhẹ nhàng hơn. Nhập siêu có thể trở lại bất cứ lúc nào. Đặc biệt, nếu nhìn nhận vào khoảng thời gian ngắn, một tháng, một quý thì bấp bênh, luôn luôn có thể đảo chiều. Bởi vậy, Việt Nam nhập siêu trong 2 tháng đầu năm nay là khá bình thường.
Theo ông, đâu là nguyên nhân trực tiếp khiến nhập siêu quay trở lại trong 2 tháng đầu năm? Từ trước đến nay, Việt Nam xuất siêu được, vùng xuất siêu là các DN 100% vốn nước ngoài và khu vực nông nghiệp. 2 tháng đầu năm, XK khu vực nông nghiệp không mấy khả quan. Bên cạnh đó, đầu năm cũng chưa phải là thời điểm các DN 100% vốn nước ngoài có nhiều sản phẩm XK. Điều này khiến nhập siêu quay trở lại. Tính tới hết tháng 2, Việt Nam vẫn NK lớn nhất từ Trung Quốc. Về lâu dài, điều này có đáng lo ngại hơn không, thưa ông? Thời gian qua, có những thời kỳ, mức nhập siêu từ thị trường Trung Quốc xếp sau Hàn Quốc, tuy nhiên đây vẫn là thị trường nhập siêu lớn nhất của Việt Nam. Đến nay, Việt Nam chưa có biện pháp gì để thay đổi cơ bản điều này. Thậm chí, nhập siêu từ Trung Quốc có thể lớn hơn vào thời gian tới. Đó là bởi, nếu cuộc chiến tranh thương mại giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc nổ ra ngày càng khốc liệt, việc đầu tư từ Trung Quốc, bán công nghệ, bán nhà máy sang thị trường Việt Nam lớn lên, đẩy nhập siêu từ Trung Quốc tăng cao. Việt Nam cần phải cảnh giác điều đó, đồng thời thúc đẩy, tận dụng tốt các Hiệp định Thương mại tự do (FTA) để tăng nhập siêu từ thị trường khác như Hàn Quốc, EU… Ngoài ra, Trung Quốc là thị trường rộng lớn. Nếu Việt Nam đưa được sản phẩm vào sâu nội địa thông qua các hệ thống phân phối của Trung Quốc thì mới có thể giải quyết tương đối bền vững quan hệ thương mại giữa Việt Nam và Trung Quốc.
Năm nay, liệu Việt Nam có thể duy trì đà xuất siêu như năm 2018 và theo ông, đâu là giải pháp khả thi đảm bảo cho xuất siêu của Việt Nam ổn định, hướng tới sự bền vững? Ở thời điểm hiện tại, rất khó để đưa ra dự báo chính xác, chỉ có thể nói là, nhập siêu hay xuất siêu của nền kinh tế Việt Nam vẫn đảo chiều hết sức nhanh chóng. Đó là bởi có ẩn số chưa thể tính được là ảnh hưởng của cuộc chiến tranh thương mại Trung Quốc-Hoa Kỳ tác động như thế nào tới nền kinh tế toàn cầu và nền kinh tế Việt Nam. Mục tiêu cân bằng cán cân thương mại, thậm chí xuất siêu bền vững chỉ thực hiện được khi nào DN 100% vốn trong nước đã chuyển đổi được cơ cấu, tái cơ cấu để có thể cân bằng cán cân thương mại trong nội bộ DN, lúc đó cán cân thương mại chung mới bền vững. Ngoài ra, cần tập trung phát triển nông nghiệp sạch, nông nghiệp hữu cơ để có XK bền vững ra thị trường thế giới. Xin cảm ơn ông!
|